Thursday, 19 January 2017

ĐÁNH GIÁ NHIỆM KỲ TỔNG THỐNG BARACK OBAMA (Jeffrey Frankel – Project Syndicate)




Jeffrey Frankel – Project Syndicate
Biên dịch: Nguyễn Huy Hoàng | Biên tập: Lê Hồng Hiệp
Posted on 20/01/2017 by The Observer

Bất kỳ đánh giá nào về nhiệm kỳ tổng thống Mỹ kéo dài tám năm của Barack Obama cũng nên bắt đầu từ đầu: lễ nhậm chức đầu tiên của ông, ngày 20 tháng 1 năm 2009. Nền kinh tế Mỹ khi đó đang rơi tự do: các thị trường tài chính đã đình trệ, GDP đang thu hẹp, và tỷ lệ việc làm giảm mạnh, với khoảng 800.000 việc làm bị mất đi mỗi tháng. Và hai cuộc chiến tranh thiếu tính toán và được tiến hành cẩu thả đang diễn ra ở nước ngoài.

Nói ngắn gọn, khi bước vào nhiệm kỳ, Obama phải đối mặt với những điều kiện bất lợi hơn so với bất cứ tổng thống sắp nhậm chức nào trong nhiều thập niên. Đúng là Franklin D. Roosevelt đã thừa hưởng cuộc Đại suy thoái và Abraham Lincoln đã nhậm chức khi nội chiến bùng nổ. Nhưng còn ai nữa bước vào Nhà Trắng mà phải đối mặt với cả một cuộc khủng hoảng kinh tế lẫn một cuộc khủng hoảng an ninh quốc gia?

Để giải quyết cuộc khủng hoảng kinh tế, Obama đưa ra một chương trình kích thích tài khóa và các chương trình giải cứu cho hệ thống tài chính và ngành công nghiệp xe hơi – các chính sách bổ sung và tăng cường cho chính sách nới lỏng tiền tệ tích cực và sáng tạo của Cục Dự trữ Liên bang. Đảng Cộng hòa gần như đồng lòng phản đối chương trình kích thích kinh tế. Và gần như tất cả mọi người đều chỉ trích các chương trình giải cứu, thúc giục Obama hoặc quốc hữu hóa các ngân hàng và các công ty ô tô hoặc để chúng sụp đổ.

Vượt qua mọi khó khăn, chính quyền Obama đã khiến con đường trung đạo có hiệu quả. Cuộc suy thoái chấm dứt vào tháng 6 năm 2009 – một thành tựu mà chính quyền đã không được ghi nhận đầy đủ công lao, bất chấp việc tình thế rõ ràng đã đảo ngược. Trong quý cuối cùng của năm 2008, sản lượng kinh tế giảm đáng ngạc nhiên ở mức 8,2% một năm. Nhưng gần như ngay sau khi chương trình kích thích được thực hiện, suy giảm GDP và tỷ lệ mất việc làm đã chậm lại đáng kể. Đến tháng 6 năm 2009 thì chạm đáy khi tăng trưởng GDP chuyển sang con số dương trong quý tiếp theo.

Tỷ lệ việc làm ở mức dương diễn ra vào đầu năm 2010. Tăng trưởng việc làm được duy trì trong suốt thời gian còn lại của nhiệm kỳ Obama, đặt ra những mức kỷ lục: nền kinh tế Mỹ đã có thêm hơn 15 triệu việc làm trong những năm còn lại của Obama. Đến nửa sau nhiệm kỳ thứ hai của Obama, tỷ lệ thất nghiệp đã giảm một nửa, xuống dưới mức 5%; tiền lương tăng; và thu nhập gia đình trung vị thực cuối cùng cũng tăng, ở mức cao kỷ lục là 5,2% trong năm báo cáo gần đây nhất, với các nhóm có thu nhập thấp hơn được hưởng lợi từ những khoản gia tăng thu nhập thậm chí còn cao hơn nữa.

Đúng là quá trình phục hồi đã diễn ra lâu và chậm đến đáng thất vọng. Một lý do là mức độ nghiêm trọng và nguồn gốc tài chính của cuộc khủng hoảng 2007–08. Một lý do khác là những nỗ lực của Đảng Cộng hòa, vốn giành được một đa số trong Quốc hội vào năm 2010, nhằm ngăn chặn kích thích tài khóa hơn nữa, mặc dù chi tiêu cơ sở hạ tầng và cắt giảm thuế được thiết kế tốt chính là những gì mà nền kinh tế Mỹ cần trong các năm 2011–14. Đảng Cộng hòa có vẻ chỉ ủng hộ mở rộng tài khóa khi họ kiểm soát được Nhà Trắng.

Obama đã đạt được hai thành tựu lớn khác trước khi chiến lược gây bế tắc của Đảng Cộng hòa phát tác: đạo luật cải cách tài chính Dodd-Frank và Đạo luật Chăm sóc Sức khỏe Hợp túi tiền (ACA, còn gọi là “Obamacare”). Bất chấp những bước đi tiếp theo của Đảng Cộng hòa nhằm làm suy yếu Dodd-Frank và ACA, cả hai cải cách này đều đem lại nhiều lợi ích hơn đa số mọi người nhận ra. Đạo luật Dodd-Frank giúp giảm bớt khả năng lặp lại cuộc khủng hoảng tài chính 2007–08, và ACA đã giúp hơn 20 triệu người Mỹ được tiếp cận bảo hiểm y tế trong khi làm chậm gia tăng chi phí chăm sóc sức khỏe tổng thể.

Hai cuộc chiến mà Obama thừa hưởng là rất khó giải quyết. Nhưng ông đã đưa ra những quyết định khó khăn dẫn đến việc tiêu diệt kẻ xúi giục các vụ tấn công khủng bố ngày 11 tháng 9, Osama Bin Laden – một mục tiêu mà người tiền nhiệm của ông, George W. Bush, trong cơn háo hức xâm lược Iraq, đã không còn hứng thú theo đuổi.

Hơn nữa, trong năm 2015, ngay khi báo chí bắt đầu gọi ông là tổng thống vịt què, Obama đã đạt được một chuỗi thành công chính sách đối ngoại – cụ thể là một thỏa thuận hạt nhân vô cùng cần thiết với Iran, bình thường hóa quan hệ với Cuba, và thỏa thuận về Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP). Ông cũng giúp đảm bảo một thỏa thuận toàn cầu về chống biến đổi khí hậu, đặc biệt là bằng cách lần đầu tiên đạt được một bước đột phá với Trung Quốc.

Tổng thống đắc cử Donald Trump, người sẽ tiếp quản vị trí tổng thống vào tháng 1 này, phải đối mặt với những điều kiện dễ dàng hơn nhiều so với Obama. Tuy nhiên, ông đã công bố những kế hoạch đảo ngược hầu hết, nếu không nói là tất cả, thành tựu của Obama. Ví dụ, TPP đã chết. Và bốn năm nữa có thể sẽ là quá muộn để có thể phục hồi nó, bởi đến khi đó các nước Đông Nam Á có thể đã bị lôi kéo vào một nhóm thương mại do Trung Quốc dẫn đầu.

Tuy nhiên, trong một số trường hợp, Trump sẽ vấp phải trở ngại khi biến những luận điệu làm hài lòng đám đông của mình thành hiện thực. Ví dụ, trong khi bãi bỏ Obamacare, Đảng Cộng hòa rất có thể sẽ bị cản trở bởi việc không có một chính sách thay thế mà không lấy đi bảo hiểm y tế của 20 triệu người Mỹ, hay làm tăng chi phí chăm sóc sức khỏe. Do vậy, có thể cuối cùng họ sẽ chỉ tiến hành những thay đổi thực chất quy mô nhỏ đối với ACA rồi dán một cái tên mới lên đó – tương tự việc xây dựng một bức tường “đẹp đẽ” dài chỉ một phần tư dặm dọc biên giới Mexico nhằm làm nền chụp ảnh.

Tương tự, lời hứa bãi bỏ thỏa thuận hạt nhân với Iran của Trump cũng xa rời thực tế. Nếu không có sự tham gia của các đồng minh của Mỹ, áp đặt lại các biện pháp trừng phạt sẽ có rất ít tác động, ngoài việc thúc đẩy Iran tái khởi động và thậm chí còn đẩy mạnh chương trình hạt nhân của mình. Đó là điều mà Bắc Triều Tiên đã làm khi Bush, lên nắm quyền, về cơ bản đã xé bỏ “khung thỏa thuận” với đất nước này.

Với việc Trump sẵn sàng đưa ra những quyết định khinh suất như vậy, các cử tri Mỹ liệu có khiến ông chịu trách nhiệm? Bush đã mắc phải những sai lầm nghiêm trọng trong chính sách kinh tế và đối ngoại trong nhiệm kỳ tổng thống của mình, bắt đầu từ những năm đầu, với những hệ quả khó lường đối với nền kinh tế, ngân sách liên bang, và an ninh quốc gia. Mặc dù tăng vọt trong nhiệm kỳ đầu, các con số thăm dò ủng hộ ông đã thấp hơn nhiều trước thời điểm ông rời nhiệm sở.

Ngược lại, sự ủng hộ dành cho Obama đã suy giảm trong phần lớn nhiệm kỳ tám năm của ông. Nhưng ông rời nhiệm sở với tỷ lệ ủng hộ lớn hơn đáng kể so với hầu hết các tổng thống trước – và cao hơn rất nhiều so với Trump. Công chúng Mỹ cuối cùng rồi sẽ nhận ra những thành công và thất bại của các nhà lãnh đạo của họ. Không may là đôi khi điều đó cần một khoảng thời gian.

-------------
Jeffrey Frankel, giáo sư Trường Quản lý Nhà nước Kennedy thuộc Đại học Harvard, nguyên là thành viên Hội đồng Cố vấn Kinh tế của Tổng thống Bill Clinton. Ông điều hành Chương trình Tài chính Quốc tế và Kinh tế Vĩ mô tại Văn phòng Nghiên cứu Kinh tế Quốc gia Hoa Kỳ, nơi ông là thành viên của Ủy ban Xác định Chu kỳ Kinh tế, cơ quan chính thức của Hoa Kỳ chuyên xác định thời điểm suy thoái và phục hồi của nền kinh tế.

Copyright: Project Syndicate 2017 – Looking Back on Barack

Nguồn : Jeffrey Frankel, “Looking Back on Barack,” Project Syndicate, 13/01/2017.





VÌ SAO TỪ BỎ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI ? (Mặc Lâm, Nguyễn Tiến Trung - RFA)




Mặc Lâm, biên tập viên RFA
2017-01-19

Dư luận mấy ngày vừa qua bàn cãi, tranh luận lẫn cười cợt một cách ầm ĩ xoay chung quanh bài viết đăng trên tờ Quân Đội Nhân Dân của tác giả Hà Đăng, nguyên Ủy viên Trung ương đảng, nguyên Trưởng ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương, có tựa đề: “Đòi từ bỏ Chủ nghĩa xã hội là sai lầm lớn”. Mặc Lâm có cuộc trao đổi với anh Nguyễn Tiến Trung, một người hoạt động đấu tranh dân chủ để làm sáng tỏ chủ đề này.

Mô hình mù mờ

Mặc Lâm: Trong bài viết này ông Hà Đăng cho là: “Sự sụp đổ ở Liên Xô và Đông Âu là sự sụp đổ của một mô hình xây dựng chủ nghĩa xã hội chứ không phải sự sụp đổ chủ nghĩa xã hội nói chung”, Anh có ý kiến gì về nhận định này?
Nguyễn Tiến Trung: Vậy cho tôi hỏi lại ông Hà Đăng là theo ông, mô hình Chủ nghĩa xã hội nào là đúng? Cuba, Venezuela, Trung Quốc, Triều Tiên, hay Việt Nam đúng?
Ông Bùi Quang Vinh - nguyên  bộ trưởng bộ kế hoạch - đầu tư, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khi được hỏi về mô hình kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa đã nói thẳng: Chúng ta cứ nghiên cứu mô hình đó, mà mãi có tìm ra đâu. Làm gì có cái thứ đó mà đi tìm?”
Nghị quyết Trung ương khoá 12: nhiều vấn đề mới, phức tạp phát sinh từ thực tiễn nhưng chưa được lý giải và xử lý kịp thời, hiệu quả.
Bà Nguyễn Thị Bình đã phát biểu: Từ lâu, các đồng chí lãnh đạo cũng đã nêu ra phương thức của Đảng là “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”, nhưng đến nay chưa được thể chế hóa, chưa có một văn bản nào quy định rõ ràng về phương thức lãnh đạo nói trên.
Như vậy có thể thấy là bản thân Đảng Cộng sản hiện tại không hề có bất cứ mô hình nào mà chỉ là sự chắp vá giữa kinh tế tư bản hoang dã không theo luật pháp và chính trị thì độc quyền.
Sở dĩ Đảng Cộng sản Việt am không dám nói rõ về mô hình "dân làm chủ, Đảng Cộng sản lãnh đạo, nhà nước quản lý" vì bản thân câu đó mâu thuẫn nhau. Dân làm chủ là dân có quyền bầu lãnh đạo, nhưng việc Đảng Cộng sản tự nhận là lãnh đạo đã khiến quyền làm chủ bầu lãnh đạo quốc gia của người dân bị tước bỏ. Do đó sẽ không bao giờ có mô hình nào thoả mãn hai chuyện mâu thuẫn như vậy.
Nếu ông Hà Đăng cho rằng mô hình Chủ nghĩa Xã hội ở Việt Nam là ưu việt thì tại sao lúc nào Đảng Cộng sản cũng nơm nớp lo sợ bị "diễn biến hoà bình, bạo loạn lật đổ", nhìn đâu cũng thấy thế lực thù địch? Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc lại vừa tuyên bố "Không đổi mới là chết". Vậy nếu anh đúng và ưu việt sao còn phải sợ chết?

Mặc Lâm: Như anh vừa nói thì trong bài viết cũng khẳng định rằng nguyên nhân làm cho Chủ nghĩa xã hội tại Liên Xô sụp đổ vì âm mưu và thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch đế quốc chủ nghĩa” Anh có đồng ý không?
Nguyễn Tiến Trung: Đảng cộng sản Liên bang Nga vẫn hoạt động ở Nga và vẫn theo đuổi chủ nghĩa xã hội thì tại sao dân Nga không bầu cho Đảng Cộng sản Liên bang Nga lên nắm quyền? Chẳng lẽ chính người dân Nga lại là thế lực thù địch của Đảng Cộng sản Nga? Tại sao khi Gorbachov tuyên bố giải tán ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô, đồng nghĩa với việc giải tán Đảng Cộng sản LX thì gần 20 triệu đảng viên Đảng Cộng sản LX hầu như không có phản ứng gì?
Rõ ràng chế độ một đảng độc quyền nhà nước, đứng trên pháp luật gây bất công xã hội gây ra sự chán ghét chế độ ngay trong hàng ngũ Đảng viên Cộng sản. Và điều đó cũng đúng ở Việt Nam khi lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam liên tục lo sợ đảng viên "tự diễn biến, tự chuyển hoá”, thể hiện ngay ở nghị quyết hội nghị Trung ương 4, khoá 12 vừa qua. Và bài viết của ông Hà Đăng cũng nằm trong loạt bài chống tự diễn biến, tự chuyển hoá đó.

Cái cớ để độc quyền cai trị

Mặc Lâm: Tác giả Hà Đăng khẳng định Việt Nam học tập kinh nghiệm của Liên Xô nhưng hoàn toàn không có sự sao chép trong xây dựng Chủ nghĩa Xã hội. Theo anh điều này đúng hay sai?
Nguyễn Tiến Trung: Trước năm 86 thì Đảng Cộng sản VN hoàn toàn sao chép mô hình của Liên Xô thể hiện ở những điểm sau: về pháp luật thì điều 4 hiến pháp sao chép điều 6 hiến pháp liên xô để xác lập mô hình độc đảng toàn trị, coi nhà nước là công cụ chuyên chính vô sản để trấn áp các giai cấp và các thành phần khác trong xã hội; về sở hữu tài sản thì chỉ có 2 hình thức là sở hữu toàn dân và tập thể, về kinh tế thì chỉ có hai thành phần kinh tế là nhà nước và tập thể; chính sách ưu tiên phát triển công nghiệp nặng...
Chính do sao chép Liên Xô một cách mù quáng nên đã dẫn đến khủng hoảng toàn diện, sụp đổ kinh tế nên Đại hội 4 năm 86 bắt buộc phải sửa sai khi cởi trói quyền tự do kinh doanh cho người dân sau đó. Tuy nhiên, việc sửa sai này vẫn còn nửa vời khi vẫn còn cái đuôi xã hội chủ nghĩa, vẫn lấy kinh tế quốc doanh là chủ đạo, sở hữu đất đai toàn dân, chính trị thì vẫn độc quyền nhà nước nghĩa là chế độ đảng trị, hiến pháp áp đặt... dẫn đến tham nhũng tràn lan, nợ công thì như Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã nói là gây nguy cơ sụp đổ nền tài khoá quốc gia, dân oan mất đất khiếu kiện khắp nới, quyền làm chủ - quyền công dân - quyền con người của dân vẫn bị tước đoạt như quyền tự do báo chí - ngôn luận, lập hội - lập đảng, ứng cử - bầu cử.

Mặc Lâm: Nhưng ông Hà Đăng lại cho là “87 năm qua, những chặng đường phát triển của cách mạng Việt Nam và những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử đã chứng minh sự đứng đắn của đường lối này, cớ sao vì sự sụp đổ củ Liên Xô và Đông Âu mà phải từ bỏ nó?” Nghe có hợp lý và thuyết phục không?
Nguyễn Tiến Trung: Trong các nước Đông Nam Á thì Việt Nam chỉ được xếp cùng nhóm với Lào, Campuchia, dưới rất xa các nước ASEAN khác như Singapore, Malaysia, Indonesia. Theo bảng xếp hạng của Diễn đàn kinh tế thế giới năm 2014 thì thậm chí Lào, Campuchia đã vượt mặt Việt Nam ở nhiều lãnh vực.
Nhiệm vụ cực kỳ quan trọng khi đảng cộng sản tự cho mình độc quyền chính trị là để tập trung nguồn lực quốc gia vào công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá quốc gia vào năm 2020. Tuy nhiên, các chuyên gia và kể cả các quan chức đã công khai thừa nhận chuyện này là không thể.
Nguyên bộ trưởng bộ công thương Vũ Huy Hoàng đã thừa nhận doanh nghiệp Việt Nam không đủ khả năng sản xuất con ốc vít cho Samsung. Ông Nguyễn Xuân Phúc, ông Nguyễn Sinh Hùng đều cảnh báo về nguy cơ vỡ nợ dẫn đến sụp đổ chế độ.
Bản thân Tổng bí thư Đảng Cộng sản Nguyễn Phú Trọng cũng mù mờ về Chủ nghĩa Xã hội khi thừa nhận không biết đến cuối thế kỷ này đã có Chủ nghĩa Xã hội ở Việt Nam hay chưa? Dân Việt Nam không phải là chuột bạch để các lãnh đạo Đảng Cộng sản có thể thử nghiệm những lý thuyết của họ.
Đảng Cộng sản lãnh đạo với lý thuyết Chủ nghĩa Xã hội cũng không bảo vệ được chủ quyền quốc gia khi để mất đảo Gạc Ma vào tay Trung Quốc năm 1988.
Điểm sơ qua vài nét để thấy đất nước ngày càng lụn bại chứ không hề có những thành tích gì có ý nghĩa lịch sử.
Lý thuyết Chủ nghĩa Xã hội cuối cùng thực ra chỉ là cái cớ để lãnh đạo Đảng Cộng sản tiếp tục độc quyền chính trị. Đảng Cộng sản theo chủ nghĩa xã hội không đem lại quyền làm chủ cho người dân khi dân mất quyền tự do ngôn luận, lập hội, ứng cử - bầu cử... Đảng Cộng sản không đem lại được nền tảng quốc gia là pháp luật chuẩn mực, bắt đầu từ bản hiến pháp do toàn dân phúc quyết. Đảng Cộng sản cũng gây chia rẽ khối đoàn kết dân tộc khi liên tục nhìn dân như "thế lực thù địch". Từ việc dân tộc bị chia rẽ dẫn đến nước yếu, Trung Cộng lăm le xâm lược và chiếm biển Đông.
Không ai yêu cầu Đảng Cộng sản phải từ bỏ Chủ nghĩa Xã hội. Các lãnh đạo Đảng Cộng sản thích Chủ nghĩa Xã hội thì cứ thích và không ai có quyền áp đặt họ. Tương tự, Đảng Cộng sản không có quyền áp đặt bất kỳ chủ nghĩa hay ý thức hệ nào lên đầu dân tộc Việt Nam, họ cũng không có quyền áp đặt hiến pháp và bắt cả dân tộc phải tuân theo, và họ phải cầm quyền một cách chính danh, qua bầu cử tự do và công bằng, với sự tham gia của nhiều thành phần, đảng phái trong xã hội.

Mặc Lâm: Xin cám ơn anh.

---------------------

Nguyễn Thị Từ Huy
2016-05-20

Có thể bài viết này (cũng như nhiều bài khác) của tôi sẽ bị luật pháp của chính quyền đảng trị sử dụng để buộc tội cho tôi theo một trong các điều 79, 88, 258. Nhưng như thế thì nực cười lắm, vì tôi chỉ làm công việc phân tích, tôi (cũng như nhiều tù nhân chính trị và các nhà hoạt động dân chủ khác) không thể nào lật đổ chính quyền được. Chúng tôi không có cách gì để lật đổ chính quyền. Muốn buộc tội chúng tôi trước hết phải đưa bà Nguyễn Thị Kim Ngân và Quốc hội 13 ra tòa và buộc tội họ rồi đưa họ vào nhà tù, bởi vì chính bà Chủ tịch Quốc hội và Quốc hội 13 mới là những người đã thực sự lật đổ chính quyền để lập nên một chính quyền mới.

Bà Nguyễn Thị Kim Ngân nếu còn lãnh đạo Quốc hội 14, đề nghị bà nên đổi danh xưng « Hiến pháp » thành ra « Đảng pháp » và « Pháp luật » thành ra « Đảng luật », và bà chỉ nên thề trung thành với Đảng thôi, như thế thì bà sẽ tránh được việc phải trở nên dối trá, tránh được việc lời thề của bà trở thành « lời thề cá chết » (Việt Nam có câu ngạn ngữ : « thề cá trê chui ống », nhưng trong những ngày biển bị đầu độc này, nó sẽ được thay thế bằng ngạn ngữ đương đại : « lời thề cá chết »).

Tuy nhiên, dù các bài viết của tôi sẽ khiến tôi phải chịu tai nạn giao thông do các ông bà dàn dựng (như dư luận vẫn lan truyền), hay phải bị tạt a xít bởi những người chẳng có thù oán gì với tôi, hay bị hành hung bởi những « côn đồ » chẳng hề biết gì về tôi, hay bị chính phủ của ông Nguyễn Xuân Phúc bắt bỏ tù, hay bị thủ tiêu bí mật, thì tôi vẫn cứ viết.

Bởi vì tình thế lúc này là : dù tôi có viết hay không thì dân tộc này cũng đang trên đường diệt vong. Dù tôi có viết hay không thì mẹ tôi, họ hàng và người thân của tôi, các cháu tôi, những người đồng bào của tôi vẫn đang hàng ngày ăn muối được lấy lên từ biển đã bị đầu độc, có thể ăn nước mắm được làm ra từ cá đã bị đầu độc... Nghĩa là hàng ngày người Việt Nam đang tích tụ chất độc vào người.

TPP hay hợp tác quân sự Việt-Mỹ không thể cứu dân tộc Việt Nam khỏi con đường diệt vong. Bởi vì với một chính quyền lệ thuộc Trung Quốc, với cách xử lý hiện nay mà tất cả chúng ta đang chứng kiến, chất độc sẽ còn tiếp tục, dưới các hình thức khác nhau, được rải trên xứ sở này. Chuyến thăm của Tổng thống Obama có thể giúp chính quyền Việt Nam giải quyết một vài khó khăn để chính quyền và đảng có thể tiếp tục tồn tại. Nhưng đó là sự tồn tại của đảng cộng sản và chính quyền cộng sản, còn đối với dân tộc Việt Nam thì chỉ có một con đường chết.

Dù GDP có tăng, dù có mở rộng các hợp tác, có thu hút đầu tư nước ngoài, có giải quyết được tạm thời các khó khăn kinh tế (điều này hoàn toàn không có gì chắc chắn) thì VN cũng không tránh khỏi bị hủy diệt bởi các đe dọa về môi trường đang trở thành hiện thực. Nếu vụ cá chết ở miền Trung vừa rồi chỉ là dấu hiệu của một cuộc chiến tranh chất độc, thì cuộc chiến đó đang còn tiếp diễn trong lặng lẽ, trong sự im lặng đồng lõa của chính quyền Việt Nam. Có nghĩa là người dân Việt Nam đang được chuẩn bị để chết một cái chết từ từ. Điều này tôi chỉ nhắc lại phân tích của những người khác, những người đã nói ra điều đó trước tôi từ lâu. Có lẽ đấy là lý do khiến Trần Huỳnh Duy Thức chọn cách tuyệt thực đến chết để đòi quyền bầu cử tự do cho người dân, bởi vì anh ấy biết rằng đằng nào cả dân tộc này cũng sẽ bị hủy diệt. Vậy chết ngay bây giờ hay chết sau vài tháng, vài năm nữa, thì có gì khác nhau ?

Biển đã chết, rừng đã chết, đồng bằng đã và đang chết, những dòng sông đã và đang chết… vậy có cách gì cưỡng lại được sự diệt vong ?

Chỉ có một cách thôi: dân chủ hóa bộ máy chính trị, chọn được những người lãnh đạo hoàn toàn không có quan hệ với Trung Quốc, chấp nhận một số thiệt thòi trước mắt (nhưng những thiệt thòi đó chẳng đáng bao nhiêu so với sự mất mát khủng khiếp trong dài hạn), thay đổi toàn bộ bộ máy và phương thức quản lý, làm trong sạch toàn bộ hệ thống hành chính. Những điều này guồng máy lãnh đạo đương nhiệm đang tỏ ra cho người dân thấy rằng họ KHÔNG THỂ thực hiện. Có lẽ một trong các lý do là, đối với họ, không chỉ là tay nhúng chàm, mà chàm đã ăn tận não bộ.

Nếu không dân chủ hóa được cơ chế chính trị thì Việt Nam chỉ có một cái đích : cả dân tộc bị hủy diệt từ từ.

Chủ nghĩa xã hội sẽ dẫn chúng ta tới đâu ? Câu hỏi này, trong một số bài viết trước đây tôi có đặt ra, nhưng, cũng như tất cả mọi người, tôi chưa tìm thấy câu trả lời.

Giờ đây, trong đầu tôi, câu trả lời đã rất rõ rệt : chủ nghĩa xã hội dẫn tới sự diệt vong của dân tộc.

Paris, 20/5/2016

XEM THÊM TRONG :





View My Stats